Thứ năm, ngày 25 tháng tư năm 2013

Thành lập doanh nghiệp

Lựa chọn một công ty cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp để bạn đủ tin tưởng là điều khó, Topiclaw hiểu được bạn nhờ nhiều năm kinh nghiệm tư vấn thành lập doanh nghiệp cho hàng ngàn doanh nghiệp trong thời gian qua đáng để bạn phải lưu tâm với các thông tin sau:
Trước hết xin mời bạn nghiên cứu qua các vấn đề mà chúng tôi sẽ tư vấn, trường hợp bạn còn bất kỳ một thắc mắc nào có thể đăng câu hỏi cho chúng tôi.

Chọn tên khi thành lập doanh nghiệp
Topiclaw chuyên tư vấn các loại hình doanh nghiệp
Việc chọn một tên thật ấn tượng và dễ nhớ, nó sẽ là thương hiệu để phát triển lâu dài là việc làm khó cho các thương nhân tương lai. Việc lựa chọn tên cho doanh nghiệp phải không được trùng hay gây nhầm lẫn cho khách hàng cũng như các doanh nghiệp khác, Topiclaw sẽ giúp bạn tra cứu tên doanh nghiệp đã tồn tại hay chưa, chúng tôi cũng tư vấn cho bạn chọn một cái tên phù hợp nhất, dễ nhớ và dễ phát triển nhất, bạn có thể tham khảo thêm thông tin hướng dẫn đặt tên cho công ty.

Chọn loại hình cho doanh nghiệp khi thành lập
Loại hình doanh nghiệp tại nước ta rất đa dạng, bao gồm các loại hình chính như:
Công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty tư nhân
Công ty hợp danh
Công ty liên doanh nước ngoài
Việc lựa chọn loại hình cho doanh nghiệp của bạn là tùy thuộc vào số người góp vốn, xu hướng phát triển hay đơn giản là bạn thích nó. Topiclaw sẽ tư vấn cho bạn một loại hình doanh nghiệp thích hợp nhất cho ngành nghề kinh doanh của bạn, theo sở thích hoặc bất cứ lý do nào khác.

Lựa chọn vốn điều lệ cho doanh nghiệp mới
Vốn điều lệ là mức vốn của doanh nghiệp do bạn quyết định, nhà nước sẽ không kiểm tra trừ khi đó là ngành nghề kinh doanh yêu cầu có vốn pháp định. Vốn điều lệ càng cao thì bạn phải đóng thuế môn bài hàng năm càng cao, nhưng lại thể hiện trách nhiệm cao hơn với doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp cũng như người góp vốn.

Thông tin thêm
Vốn điều lệ thành lập công ty tnhh
Vốn điều lệ ảnh hưởng tới các cổ đông thế nào
Thời hạn đóng góp vốn điều lệ
 Cách điều chỉnh vốn điều lệ
Việc góp vốn vào doanh nghiệp là do thỏa thuận chung giữa bạn và các cộng sự, thời gian hoàn thành việc góp vốn cũng như hình thức góp vốn cũng vậy.

Đăng ký ngành nghề cho doanh nghiệp khi thành lập
Ngành nghề kinh doanh phải được đăng ký ở mã ngành cấp 4, việc tra cứu cũng như đăng ký mã ngành nghề là do Topiclaw soạn thảo cho bạn, dựa trên ngành nghề chính mà doanh nghiệp sẽ kinh doanh, hoàn toàn do bạn quyết định.

Theo luật doanh nghiệp thì ngành nghề đăng ký là không hạn chế số lượng, nhưng khi bạn đăng ký các mã ngành nghề có điều kiện ( bao gồm điều kiện trước và điều kiện sau ) thì bạn cần phải bổ sung cùng hoặc sau các giấy tờ  thỏa mãn mới được kinh doanh các ngành nghề đó, trường hợp doanh nghiệp có mở rộng kinh doanh chưa có mã trong giấy đăng ký kinh doanh thì bạn cần phải làm các thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh.

Lưu ý: về trụ sở doanh nghiệp là không quan trọng, bạn có thể chọn bất kỳ một địa chỉ nào hợp lệ là được, không cần phải giấy tờ thuê mượn văn phòng.

Tại sao nên chọn Topiclaw để thành lập doanh nghiệp
Vì chúng tôi là rẻ nhất, dịch vụ thành lập doanh nghiệp trọn gói từ A tới Z, quý khách chỉ cần phải lo lắng cho bản kế hoạch kinh doanh sắp tới của mình mà thôi.

Vì sao chúng tôi rẻ nhất ? Chúng tôi cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp một năm sau thành lập, hơn thế nữa chúng tôi còn tư vấn cho quý vị các cách thức kê khai thuế ban đầu, miễn phí một năm tư vấn kế toán qua điện thoại của công ty.

Khách hàng không có điều kiện tới trụ sở có thể được chuyên viên của chúng tôi đến tận nơi tư vấn trực tiếp, khi quý khách sử dụng dịch vụ của chúng tôi một lần, lần hai trở đi sẽ được giảm giá 10% phí dịch vụ tiếp theo.

Liên hệ dịch vụ
Bạn có thể gọi ngay vào đường dây nóng của chúng tôi dưới chân trang, hoặc có thể nhận được sự trợ giúp của chúng tôi trực tiếp qua điện thoại cố định, hoặc linh hoạt hơn, bạn có thể gửi yêu cầu dịch vụ vào hòm thư của chúng tôi.

Nếu bạn có điều kiện đi lại, đừng ngần ngại tới trực tiếp trung tâm trợ giúp doanh nghiệp của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp.
Chúc các bạn thành công, hãy liên hệ ngay tới dịch vụ của Topiclaw ngay hôm nay để được tư vấn cặn kẽ và giá thành rẻ nhất !

Thứ sáu, ngày 22 tháng ba năm 2013

Đăng ký sản phẩm - dịch vụ của Topiclaw

Đăng ký lưu hành sản phẩm tại Topiclaw. Chúng tôi đã tư vấn và làm thủ tục đăng ký lưu hành sản phẩm khác nhau trên toàn quốc. Chúng tôi vô cùng tự hào vì đã tạo sự tin tưởng tuyệt đối cho khách hàng bằng những hài lòng của khách hàng sau khi đã sử dụng dịch vụ dành cho công ty chúng tôi. Chúng tôi với nhưng chuyên viên Luật chuyên nghiệp đã có kinh nghiệm lâu năm luôn làm việc hết mình vì lợi ích của khách hàng luôn là tiêu chí được đặt lên hàng đầu của công ty chúng tôi.

Thủ tục đăng ký lưu hành sản phẩm:
1. Đơn xin đăng ký (Theo mẫu)
2. Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc các giấy tờ khác hợp lệ chứng minh cơ sở đó có chức năng sản xuất, buôn bán hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn.
3. Bản kết quả kiểm nghiệm thành phần và hàm lượng hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn của các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam cấp. Trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam không kiểm nghiệm được thành phần và hàm lượng thì có thể sử dụng kết quả kiểm nghiệm thành phần và hàm lượng của các nhà sản xuất có uy tín trên thế giới, hoặc của những nước có Hiệp định về chất lượng hàng hoá với Việt Nam. Trong trường hợp nghi ngờ, Bộ Y tế sẽ gửi mẫu ra nước ngoài để kiểm nghiệm và cơ sở xin đăng ký phải chịu mọi chi phí cho việc kiểm nghiệm.
4. Bản trả lời kết quả khảo nghiệm của các đơn vị khảo nghiệm do Bộ Y tế Việt Nam chỉ định.
5. Giấy chứng nhận hoặc tài liệu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về sản phẩm đã được phép lưu hành hoặc chứng chỉ bán tự do của nước sở tại hoặc của ít nhất là một nước đang cho phép sử dụng (đối với hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn nhập khẩu).
6. Tài liệu kỹ thuật về những vấn đề sau:
Thành phần, cấu tạo
Tác dụng và hướng dẫn sử dụng
Tác dụng phụ, cách xử lý
Tính ổn định và cách bảo quản
Quy trình sản xuất
7. Nội dung nhãn hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn xin đăng ký.
1.2- Đối với các hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn sau đây, ngoài các tài liệu nêu trên thì cần phải bổ sung thêm tài liệu sau:
a) Các hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn lần đầu tiên được nghiên cứu sản xuất tại Việt Nam thì phải có kết quả nghiên cứu được Bộ Y tế công nhận theo quy định hiện hành.
b) Các hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn được sản xuất tại Việt Nam được áp dụng quy trình công nghệ của nhà sản xuất nước ngoài phải có thư ủy quyền (bản gốc hoặc công chứng) cho phép sử dụng quy trình công nghệ và nhãn hiệu hàng hóa.
c) Các hoá chất, chế phẩm được sản xuất tại Việt Nam áp dụng các quy trình công nghệ đã công bố, nhà sản xuất phải cung cấp các tài liệu về công thức, quy trình sản xuất đã được công bố bằng bản chính hoặc bản sao có công chứng.
b) Đối với các hoá chất, chế phẩm sản xuất tại Việt Nam mà áp dụng các quy trình công nghệ đơn giản, phổ biến và sản xuất thủ công như pha loãng, gia công đóng gói, nhà sản xuất chỉ cần mô tả quy trình sản xuất nhưng phải có bản cam kết đảm bảo hiệu lực, an toàn cho người sử dụng và môi trường.
Note: Bộ Y tế không nhận đăng ký các trường hợp hoá chất, chế phẩm không có nguồn gốc rõ ràng và không đúng theo quy định hiện hành.
Hồ sơ đăng ký hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn phải làm thành hai bộ, một bộ là các bản gốc, một bộ là các bản sao. Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, các văn bản có tính pháp lý phải là bản gốc hoặc bản sao hợp lệ. Hồ sơ phải đóng bìa, có danh mục tài liệu.
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Y tế sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành, nếu không cấp thì sẽ trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do không cấp.
Thời hạn của Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành là 5 năm.
Mọi chi tiết về dịch vụ đăng ký lưu hành hóa chất gia dụng và y tế xin liên hệ Công ty TNHH tư vấn Topiclaw

Thứ năm, ngày 21 tháng hai năm 2013

Phân biệt logo, nhãn hiệu, thương hiệu và biểu tượng

Một số câu hỏi thường gặp
1. Nhãn hiệu là gì?
2. Thương hiệu là gì
3.Logo là gì?
4. Logo khác gì với biểu tượng (symbol), nhãn hiệu (brand) và thương hiệu (trade mark)?
5. Các đặc trưng cơ bản của Logo?
6. Những lợi ích của việc thiết kế logo?

1.Logo là gì?
Logo là tín hiệu tạo hình thẩm mỹ có cấu trúc hoàn chỉnh chứa đựng một lượng thông tin hàm súc biểu đạt lực năng hoạt động của một công ty, một tổ chức, một hoạt động (như một cuộc thi, phong trào…) hay một ban nhóm. (ở Việt Nam logo còn được goi là biểu trưng)

>> Đăng ký logo

2. Logo khác gì với biểu tượng (symbol), nhãn hiệu (brand) và thương hiệu (trade mark)?
a- Biểu tượng là một giai đoạn trong quá trình nhận thức của con người về thế giới khách quan. Ở giai đoạn nhận thức này, con người dùng một đối tượng (hình ảnh) này để thay thế (tượng trưng) cho một vật (hay hiện tượng) khác phức tạp hơn.
Ví dụ: “Hình ảnh trái tim” thay thế cho “Tình yêu của con người”, “Hình ảnh chim bồ câu” tượng trưng cho “Hòa bình nhân loại”, “Hình ảnh con rắn” để chỉ những người xấu xa, độc ác….
b- Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
- Nhãn hiệu hàng hoá gắn vào sản phẩm và/hoặc bao bì sản phẩm để phân biệt sản phẩm cùng loại của các cơ sở sản xuất khác nhau
- Nhãn hiệu dịch vụ gắn vào phương tiện dịch vụ để phân biệt dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác nhau.

Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm:
- Chữ có khả năng phát âm, có nghĩa hoặc không có nghĩa, trình bày dưới dạng chữ viết, chữ in hoặc chữ được viết cách điệu
- Hình vẽ, ảnh chụp
- Chữ hoặc tập hợp các chữ kết hợp với hình vẽ, ảnh chụp.
Yêu cầu:
- Được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết.
- Không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá (đơn nhãn hiệu hàng hoá) tại Cục Sở hữu Công nghiệp hoặc đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.
- Không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hoá được coi là nổi tiếng.
c- Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức.
Thương hiệu – theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Thương hiệu được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất. Lưu ý phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu. Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau.

Yếu tố cấu thành:

- Phần đọc được:
Bao gồm những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác của người nghe như tên công ty, doanh nghiệp (ví dụ như: Gateway, PGrand, 3M…), tên sản phẩm (555, Coca Cola), câu khẩu hiệu (Tôi yêu Việt Nam), đoạn nhạc, hát, câu slogan đặc trưng và các yếu tố phát âm khác.
- Phần không đọc được:
Bao gồm những yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng (hình bông sen của Vietnam Airlines), màu sắc (màu xanh của Nokia, đỏ của Coca-Cola, hay kiểu dáng thiết kế, bao bì (kiểu chai bia Henniken) và các yếu tố nhận biết (bằng mắt) khác.
Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu

3. Các đặc trưng cơ bản của Logo?

- Khác biệt: có những dấu hiệu đặc biệt gây ấn tượng thị giác mạnh, dễ phân biệt. Đây là chức năng quan trọng của logo, giúp phân biệt thương hiệu hay sản phẩm với thương hiệu hay sản phẩm cạnh tranh. Sự khác biệt cũng làm cho thương hiệu dễ đi vào tâm trí của khách hàng hơn. Để tạo sự khác biệt, có thể các nhà thiết thường tránh những hình cơ bản, được dùng nhiều. Tính khác biệt cao cũng làm tăng khả năng được pháp luật bảo hộ.


- Đơn giản, dễ nhớ: tạo khả năng dễ chấp nhận, dễ suy diễn. Trong vài chục giây quan sát, người xem có thể hình dung lại đường nét biểu trưng trong trí nhớ. Trong bối cảnh nhiều sản phẩm cạnh tranh cùng được khuếch trương trên các phương tiện thông tin đại chúng, logo của thương hiệu sẽ không được khách hàng biết đến nếu nó phức tạp và khó nhớ, dù là bằng tên gọi, ký hiệu hay chữ viết. Hầu hết các thương hiệu nổi tiếng thế giới đều sử dụng những dấu hiệu thương hiệu rất đơn giản. Kodak sử dụng chữ K được viết cách điệu, McDonald sử dụng chữ M hình cánh cổng màu vàng, Nike sử dụng nét phết, IBM sử dụng tên thượng hiệu viết cách điệu. Hầu như những dấu hiệu thương hiệu này chỉ sử dụng 1 hoặc 2 màu cơ bản như màu vàng của Kodak, McDonanld, màu xanh da trời của IBM, hay màu đỏ của Coca Cola.


- Dễ thích nghi: có khả năng thích nghi trong các thị trường thuộc khu vực khác nhau, các nền văn hoá hay ngôn ngữ khác nhau. Trên thực tế, khách hàng ở các nước khác nhau, có nền văn hoá khác nhau và ngôn ngữ khác nhau thường có cách hiểu khác nhau đối với các hình ảnh hay ký hiệu. Do đó các biểu trưng thương mại quốc tế ít dùng hình ảnh mang ý nghĩa sẵn có theo một nền văn hoá hay ngôn ngữ nào mà sử dụng những hình ảnh mới rồi gắn chúng với các liên tưởng về sản phẩm.
- Có ý nghĩa: biểu thị được những nét đặc trưng cho sản phẩm hay các chủ đề liên quan. Thực tế là những logo có ý nghĩa tự thân về sản phẩm lại thường không tạo nên cảm giác khác biệt. Hơn nữa, sản phẩm ngày nay thường quá phức tạp khiến tên gọi hay hình ảnh có ý nghĩa thì lại khó khác biệt, dễ nhớ và đảm bảo tính tượng trưng. Cho nên trong thực tế tính ý nghĩa này thường được tạo ra qua các liên tưởng về thương hiệu hơn là tự thân thương hiệu.


Hình dáng
Một số nhà thiết kế biểu trưng coi trọng hình dạng giản dị, dễ đọc vì biểu trưng phức tạp thường khó nhận biết.

Có thể kết hợp ký hiệu với tên thương hiệu. Khá nhiều doanh nghiệp chọn một ký hiệu đặc thù kết hợp với tên thương hiệu để tạo thành logo. Khi thương hiệu đã trở nên nổi tiếng, ký hiệu có thể đứng độc lập để tạo nên sự nhận biết về thương hiệu. Tuy nhiên, những tác giả như Al Ries và Laura Ries (1998) và Alycia Perry (2003) cho rằng ký hiệu thường chỉ có tác dụng khi nó đi cùng tên thương hiệu trong logo. Những thương hiệu mà bản thân ký hiệu có thể đứng một mình đại diện cho thương hiệu như Nike hoặc Mercedes là rất hiếm và thường chỉ có ở những thương hiệu xuất hiện từ rất sớm, khi số lượng trên thị trường là rất nhỏ.

Cách khác để tạo ra ấn tượng là dùng kiểu chữ đặc thù của tên thương hiệu. Đây là hình thức cách điệu tên thương hiệu bằng cách sử dụng kiểu chữ đặc thù bao gồm việc sử dụng phông chữ, chữ hoa – Chữ thường, thay đổi độ đậm nhạt hoặc cách viết cách điệu. Khi thiết kế logo theo cách này, doanh nghiệp có thể sử dụng thiết kế đặc thù của tên thương hiệu đầy đủ hoặc viết tắt.
Màu sắc

Màu sắc cũng có xu hướng đơn giản, dễ dàng được nhận thấy và ghi nhớ. Các nhà thiết kế có thể ưu tiên vẽ màu trắng và đen trước khi tô màu. Một vài ví dụ diễn giải màu sắc:
· Đen: trang trọng, đặc biệt, mạnh mẽ, quyền lực, tinh tế, truyền thống.
· Xanh dương: uy quyền, đỉnh đạc, an toàn, đáng tin cậy, truyền thống, ổn định, trung thành.
· Nâu/vàng: cổ điển, lợi ích, trần tục, giàu sang, truyền thống, bảo thủ.
· Xám/bạc: ảm đạm, quyền lực, thực tế, tâm linh, tin tưởng.
· Xanh lá cây: yên tĩnh, lành mạnh, khoẻ khoắn, ổn định, thèm muốn.
· Hồng: nữ tín, ngây thơ, dịu dàng, khoẻ mạnh, trẻ trung.
· Tím: tinh tế, tâm lý, giàu sang, hoàng tộc, trẻ trung, bí ẩn.
· Đỏ: hung hăng, mạnh mẽ, bền bỉ, đầy sức sống, kinh sợ,
· Cam: là màu phối hợp giữa màu đỏ và vàng, chỉ điềm lành được hưởng cuộc sống yên vui, nhiều quyền hành.
Người thiết kế logo có thể chọn màu sắc tương hợp, tương sinh với triết lý âm dương, ngũ hành…

4. Những lợi ích của việc thiết kế logo?

Trong hoạt động quảng bá, Logo không phải là thương hiệu, tuy nhiên nó là ấn tượng bên ngoài để dễ nhận ra thương hiệu.
Một Công ty, một tổ chức có một logo đẹp, ấn tượng sẽ là tiền đề để lưu giữ uy tín của mình trong cộng đồng.
Logo chính là ấn tượng bên ngoài đại diện cho thương hiệu của bạn, nó làm cho người có tiền tìm đến bạn, nhớ đến bạn và nhận rõ bạn trong hàng triệu những công ty kinh doanh khác.
Trong khi logo không phải là thương hiệu thì việc sử dụng mẫu mã và hình dáng của nó sẽ ảnh hưởng đến thương hiệu của bạn. Một logo tuyệt vời có thể mang đến cho bạn một sức mạnh không tưởng và đóng góp trực tiếp vào doanh thu. Mặt khác, một logo tệ hại rất có thể là “nụ hôn của thần chết”.

Thương hiệu, logo và nhãn hiệu

Phương Tây, thuật ngữ tiếng Anh “brand” (nhãn hiệu) bắt nguồn từ việc đánh dấu sản phẩm bằng vết đốt (to burn) do người Ai Cập, La Mã… áp dụng, trước tiên là trên đàn gia súc và sau đó là trên các sản phẩm tiểu, thủ công nghiệp của mình, nhằm phân biệt với sản phẩm cùng loại của người khác trong việc bảo đảm sự tín nhiệm và khả năng mua lại sản phẩm của khách hàng (Vincent Carratu, Commercial Counterfeighting). Trong một thời gian dài, do trình độ sản xuất và phát triển của xã hội còn hạn chế, người tạo ra sản phẩm thường chỉ có thể bán trực tiếp sản phẩm của mình trên một địa bàn hẹp gần nơi sản xuất. Việc vận chuyển hàng hoá đi xa, vượt biên giới quốc gia, rồi xuyên lục địa, nói chung là do giới thương nhân đảm nhiệm. Mỗi thương nhân có thể kinh doanh nhiều loại hàng hoá đi xa, vượt biên giới quốc gia, rồi xuyên lục địa, nói chung là do giới thương nhân đảm nhiệm. Mỗi thương nhân có thể kinh doanh nhiều loại hàng hoá mang nhiều nhãn hiệu khác nhau, và thuật ngữ “trade name” được dùng để chỉ danh xưng mà họ sử dụng trong các giao dịch thương mại.

Tình hình cũng tương tự như vậy ở Phương Đông vào thời cổ đại và trung đại. Trong xã hội Trung Quốc, với sự phân biệt thành bốn giai tầng xã hội chính: sĩ – nông – công – thương, trong hoạt động thương mại, mỗi thương nhân sử dụng một “thương hiệu” riêng nhằm phân biệt mình với các nhà buôn khác. Tại Việt nam, trước ngày thống nhất đất nước, ở miền Nam có Luật 13/57 (1-8-1957) quy định về “nhãn hiệu sản xuất” và “thương hiệu”. Ở thời điểm đó, khái niệm “thương hiệu” chỉ được chú nghĩa là “tên của hiệu buôn” (Thanh Nghị, Tự điển Việt Nam); nhưng trong Luật 13/57 nêu trên, nếu “nhãn hiệu sản xuất” rõ ràng là ứng với sản phẩm của các nhà sản xuất, thì “thương hiệu” không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm...

Sự mở rộng ngữ nghĩa đó có cơ sở kinh tế – xã hội của nó: sau cách mạng công nghiệp, năng suất sản xuất được nâng cao và giao thông phát triển, các nhà sản xuất dần dần mở rộng không chỉ hoạt động thương mại mà cả hoạt động cung ứng dịch vụ của chính mình. Bên cạnh đó là sự phát triển của hàng loạt loại hình dịch vụ trực tiếp phục vụ đời sống và guồng máy sản xuất, kinh doanh, đẩy tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực dịch vụ lên cao trong cơ cấu tổng sản phẩm kinh tế quốc dân (GNP) và trong ngôn ngữ quản trị, hoạt động thương mại dần dần được coi là một loại hình của hoạt động dịch vụ. Trong tiếng Anh, thuật ngữ “corporate name” được dùng để chỉ tên của một doanh nghiệp bất kỳ có thể có hoạt động trong cả lĩnh vực sản xuất hoặc/và thương mại hoặc/và dịch vụ. “Tên doanh nghiệp” (corporate name) nói chung thường bao gồm ba yếu tố: loại hình công ty, lĩnh vực kinh doanh, và phần tên riêng mang tính phân biệt, thí dụ: [Công ty cổ phần] [Cao su] [sài Gòn – Kym Đan]. Trên thực tế, trong đa số các giao dịch, rõ ràng sẽ gặp nhiều bất tiện nếu phải xưng danh đầy đủ nhưng dài dòng như vậy, tên doanh nghiệp thường chọn một danh xưng vắn tắt tạo thuận lợi hơn cho sự nhận biết và truyền thông về doanh nghiệp của mình. Danh xưng đó thường chính là hoặc xuất phát từ phần tên riêng nằm trong tên doanh nghiệp (trong ví dụ trên là (Kym Đan), và thuật ngữ “trade name” hiện nay được dùng để chỉ một nhãn hiệu (brand) đã được đăng ký độc quyền (David A. Weinstein, How to project your business, professional and brand name). Với các ghi nhận trên, có thể thấy thuật ngữ “thương hiệu” trong tiếng Việt chính là có hàm nghĩa tương thích với thuật ngữ “trade name”.

>> tham khảo thêm đăng ký nhãn hiệu

Trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành của Việt Nam, thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hoá” được dùng để chỉ dấu hiệu nhằm phân biệt các sản phẩm cùng loại do các nhà sản xuất khác nhau đưa ra thị trường; còn để phân biệt các nhà sản xuất, kinh doanh với nhau, có điều 97 Bộ luật Dân sự quy định về “Tên pháp nhân”, có điều 24 Luật Doanh nghiệp quy định về “Tên doanh nghiệp”, điều 24.1 trong Luật Thương mại quy định về “Tên thương mại” của thương nhân,… với hàm nghĩa thống nhất với nhau. Tiếp theo đó, điều 14 Nghị định 54/2000/NĐ-CP quy định về việc bảo hộ “Tên thương mại”, được hiểu là tên gọi của mọi tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp. Thuật ngữ “Thương hiệu” trước đây không hiện diện trong hệ thống văn bản pháp lý, chỉ được công luận sử dụng rộng rãi gần đây, và đã có tác động nhất định, đủ để bắt đầu được đưa vào sử dụng trong một số chính sách có liên quan.

Bên cạnh đó, có khi doanh nghiệp còn sử dụng cả lô-gô (biểu tượng kinh doanh) để thể hiện thêm các nét đặc trưng riêng của công ty như: lĩnh vực kinh doanh, triết lý hoặc tư tưởng kinh doanh, truyền thống hoặc nét văn hoá của doanh nghiệp, và có khi chỉ là một sự cách điệu hình hoạ tên công ty nhằm minh hoạ, nhấn mạnh, hoặc kết tụ các nét tính cách trong kinh doanh…

Điều trước tiên cần phải phân biệt rõ là, trong khi tên thương mại (tên công ty/tên doanh nghiệp/tên cơ sở kinh doanh…), thương hiệu (trade name) và biểu tượng kinh doanh (logo) thiên về hướng phản ánh mặt chủ quan của doanh nghiệp: xuất xứ, quy mô, tầm cỡ, sức mạnh chuyên môn, phong cách kinh doanh…; thì trong quá trình được đính lên sản phẩm để đi vào thương trường, một sản phẩm mang nhãn lại phải tập trung theo hướng tìm hiểu, đáp ứng và thể hiện mặt khách quan của các mối quan hệ: nhu cầu, ước muốn, nét tính cách của khách hàng, điểm khác biệt so với nhãn hiệu của đối thủ cạnh tranh… theo đó, ở góc độ tinh thần, các giá trị và các nét tính cách của thương hiệu/lô-gô và các giá trị và các nét tính cách của nhãn hiệu có thể hội tụ hoặc trùng nhau, mà cũng có thể phân kỳ hay tách biệt.


Với các công ty kinh doanh đơn ngành hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực gần nhau hay có tính bổ trợ lẫn nhau, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ, giá trị của nhãn hiệu thường được bảo đảm bởi chính uy tín, năng lực và phong cách của doanh nhân hoặc công ty (có khi người ta dùng cả tên, họ cá nhân hoặc gia đình để đặt tên công ty). Khi đó, doanh nghiệp dễ có thói quen sử dụng chính thương hiệu hoặc lô-gô của công ty (vốn để phân biệt các doanh nghiệp với nhau) làm nhãn hiệu (vốn để phân biệt các hàng hoá/dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau). Dễ dàng nhận thấy điều đó qua nhiều ví dụ: Ngân hàng Á Châu với lô-gô là chữ ACB cách điệu, tiệm bánh Như Lan với lô-gô là con gà trống, Công ty Vifon với lô-gô chiếc lư hương,… Đó là lý do khiến nhiều người đành đồng ý nghĩa của hai thuật ngữ “Thương hiệu” và “Nhãn hiệu”.
Với các công ty kinh doanh đa ngành, hoặc do cần thiết phải tiến hành phân mảng thị trường (segmentation) nhằm đáp ứng cao nhất các ước muốn và đặc điểm đa dạng của các nhóm khách hàng khác nhau, doanh nghiệp lại thường có xu hướng phát triển một tập các nhãn hiệu (brand portfolio) mà trong đó, mỗi nhãn hiệu sẽ dành để phục vụ một phân mảng thị trường mục tiêu (target segment) khác nhau. Các thí dụ như: Công ty Mỹ phẩm Sài Gòn (với lô-gô là chữ SCC cách điệu không dùng làm nhãn hiệu) với các nhãn hiệu Miss Saigon, Cindy…; công ty Honda Việt Nam với Cub, Dream, Spacy, Future, Wave…

Ngay cả khi các sản phẩm của công ty được sản xuất tại cùng một phân xưởng hay thậm chí bởi cùng một dây chuyền công nghệ, thì trong mối tương tác với khách hàng, mỗi nhãn hiệu lại mang một hoặc một số nét tính cách riêng biệt. Đòi hỏi về sự khác biệt trong nét tính cách đôi khi còn đi xa đến mức cần phải tạo cho một nhãn hiệu mới một sự nhận biết độc lập với các liên tưởng hiện có về thương hiệu và/hoặc các nhãn hiệu đang sử dụng, như trường hợp “lăng xê” nhãn hiệu “Number 1” của Công ty Bia Bến Thành.

Như vậy, trong kinh doanh, doanh nghiệp luôn sử dụng một tập các dấu hiệu tiếp thị trong đó có các nhãn hiệu. Mỗi dấu hiệu có vai trò riêng của mình. Bản thân việc sử dụng thuật ngữ nào để gọi chúng chỉ mang tính quy ước và không quan trọng bằng việc phân định và quản trị chúng một cách nhất quán.

Tìm hiểu về sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá và bản quyền

 Sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá và bản quyền là “sở hữu trí tuệ” – liên quan đến các sản phẩm có nguồn gốc từ tinh thần sáng tạo. Sở hữu trí tuệ là sự tưởng tượng được đưa vào hiện thực. Một số người nhầm lẫn sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá và bản quyền. Mặc dù  có một số điểm tương đồng giữa các loại bảo hộ sở hữu trí tuệ nhưng chúng vẫn khác nhau và phục vụ cho các mục tiêu khác nhau.
1. Sáng chế

Bằng độc quyền sáng chế là độc quyền được cấp cho sáng chế của bạn, một sản phẩm hoặc quá trình  mà bạn cung cấp, hay nói chung là một cách mới để làm một cái gì đó, hoặc đưa ra một giải pháp kỹ thuật mới cho một vấn đề. Để  được cấp bằng độc quyền  sáng chế, phát minh của bạn phải thoả mãn những điều kiện nhất định. Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam yêu cầu một phát minh đủ tư cách để bảo hộ dưới dạng cấp bằng phát minh sáng chế khi nó là lý thuyết, là bản chất sáng tạo và có thể là  ứng dụng công nghiệp. Một bằng sáng chế cung cấp sự bảo hộ phát minh cho chủ sở hữu bằng sáng chế. Thời gian bảo hộ cho 1 bằng độc quyền sáng chế ở Việt Nam là 20 năm. (10 năm cho giải pháp hữu ích) kể từ ngày nộp đơn hợp lệ.

Bảo hộ độc quyền sáng chế nghĩa là phát minh của bạn không được chế tạo, sử dụng, phân phối hoặc bán nếu không được sự đồng ý của bạn. Quyền độc quyền sáng chế thường được thi hành tại toà án, mà trong hầu hết các hệ thống, nắm thẩm quyền để chấm dứt xâm phạm độc quyền sáng chế.
Sau đó, bạn có quyền quyết định ai có thể hoặc không thể sử dụng phát minh đã được cấp bằng độc quyền sáng chế trong thời gian phát minh được bảo hộ. Bạn có thể cho phép hoặc cấp phép cho các bên sử dụng phát minh dựa theo các điều đã được thoả thuận giữa 2 bên. Bạn cũng có thể bán quyền phát minh cho người khác, người sau đó sẽ là chủ sở hữu mới của bằng độc quyền sáng chế. Khi bằng độc quyền sáng chế hết hiệu lực, sự bảo hộ kết thúc và một phát minh sẽ được công bố, nghĩa là chủ sở hữu không còn giữ độc quyền đối với phát minh sẵn  có cho những người khác khai thác thương mại.

2. Văn bằng chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá

Một bằng chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá cung cấp sự bảo hộ cho chủ sở hữu nhãn hiệu bằng cách đảm bảo độc quyền sử dụng nhãn hiệu để nhận biết hànghoá hoặc dịch vụ, hoặc uỷ quyền cho người trả tiền sử dụng. Thời hạn bảo hộ thay đổi, nhưng một chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá có thể  được thay mới không xác định trong giới hạn thời gian với điều kiện chi trả các chi phí phụ thêm. Bảo hộ chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá được thi hành tại toà án, mà trong hầu hết các hệ thống có thẩm quyền ngăn chặn sự xâm phạm nhãn hiệu hàng hoá. xem đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.

Phạm vi của nhãn hiệu hàng hoá rất rộng. Nhãn hiệu hàng hoá có thể là một hoặc sự kết hợp các từ, chữ cái và các con số. Chúng có thể bao gồm các bản vẽ, biểu tượng, hình ảnh 3 chiều như hình dáng và bao gói của 1 hàng hoá, các  dấu hiệu nghe được như nhạc, giọng hát, mùi hương, màu sắc được sử dụng như là các đặc điểm phân biệt.

Ngoài nhãn hiệu hàng hoá, việc nhận dạng nguồn gốc thương mại của sản phẩm hoặc dịch vụ còn do một số loại dấu hiệu khác. Các dấu hiệu tập thể do một hiệp hội hoặc tổ chức sở hữu mà các thành viên của nó sử dụng để nhận dạng chính chúng với mức độ chất lượng và các yêu cầu khác do hiệp hội hoặc tổ chức đặt ra.

Các dấu hiệu chứng nhận này được đưa ra để tuân thủ các tiêu chuẩn và yêu cầu xác định. Chúng có thể được cấp cho bất cứ ai có thể chứng nhận rắng sản phẩm hoặc hệ thông liên quan đáp ứng các tiêu chuẩn và yêu cầu nhất định đã đặt ra. Chứng nhận và biểu tượng ISO 9001:2000, ISO 14001:2004, HACCP, và CE-Mark được dán hoặc in trên bao bì sản phẩm và/hoặc trên các sản phẩm có thể được coi là một kiểu nhãn hiệu hàng hoá.

3. Bản quyền

Bản quyền là một thuật ngữ pháp lý mô tả quyền được cấp cho người sáng tạo ra các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Các loại tác phẩm được bảo hộ bằng bản quyền tác giả theo luật Việt Nam, bao gồm: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được bảo hộ bằng quyền tác giả bao gồm:

    Tác phẩm văn học, tác phẩm khoa học, sách giáo khoa, khoá đào tạo và các tác phẩm khác biểu hiện dưới dạng ngôn ngữ viết hoặc các đặc tính khác;
    Bài giảng, bài nói chuyện hoặc diễn văn
    Tác phẩm báo chí;
    Tác phẩm âm nhạc;
    Tác phẩm sân khấu;
    Tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm được tạo ra bởi một quá trình tương tự điện ảnh ( sau đây gọi chung là các tác phẩm điện ảnh) ;
    Các tác phẩm nghệ thuật tạo hình và tác phẩm nghệ thuật ứng dụng ;
    Tác phẩm nhiếp ảnh;
    Tác phẩm kiến trúc;
    Bức phác hoạ, kế hoạch, bản đồ và các bản vẽ liên quan đến địa hình hoặc các tác phẩm khoa học ;
    Văn hoá dân gian và các tác phẩm nghệ thuật dân gian ;
     Bộ chương trình và dữ liệu máy tính .

Bản quyền  bao gồm quyền lợi về tinh thần và kinh tế. Quyền lợi về tinh thần được hiểu là quyền của tác giả đặt tiêu đề cho tác phẩm của họ, gắn liền tên thật của họ hoặc  bút danh đựoc thừa nhận  khi tác phẩm của họ được xuất bản hoặc sử dụng, xuất bản các tác phẩm của họ, hoặc  uỷ quyền cho người khác xuất bản tác phẩm của họ,  bảo vệ  sự nguyên vẹn cho tác phẩm; và  cấm người khác sửa chữa, thay đổi hoặc bóp méo tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào, gây tổn hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

Quyền lợi kinh tế bao gồm quyền của tác giả được sáng tác các tác phẩm tiếp theo, trình diễn tác phẩm của họ trươc công chúng, sao chép tác phẩm, phân phối hoặc nhập khẩu nguyên bản hoặc các bản sao tác phẩm, truyền thông tác phẩm của học tới công chúng bằng các phương tiện không dây và landline, mạng lưới thông tin điện tử hoặc các phương tiện kỹ thuật khác; và phát hành nguyên bản hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh và các chương trình máy tính.

Thời hạn của quyền tinh thần gần như không xác định. Thời hạn của quyền kinh tế cho hầu hết các đối tượng theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam từ 50 năm đến khi cả cuộc đời tác giả và 50 sau khi tác giả qua đời.

Đăng ký logo độc quyền

 Công ty chúng tôi Là một đơn vị có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực xác lập và bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
Công ty chúng tôi hội đủ các chức năng để có thể đại diện cho khách hàng tiến hành các công việc liên quan đến tra cứu, xác lập quyền của chủ sở hữu các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ theo các quy định của pháp luật.


Về việc đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam, chúng tôi xin có một số trao đổi liên quan đến dịch vụ tư vấn của chúng tôi, cụ thể như sau: Thời gian:Theo quy định của pháp luật, thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa kéo dài khoảng 07 tháng.

Cụ thể:

- Giai đoạn xét nghiệm hình thức (01 tháng).
Trong giai đoạn này, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ xem xét đánh giá về chủ thể nộp đơn, phân nhóm và các thủ tục về mặt hình thức khác
- Giai đoạn Xét nghiệm nội dung đơn (06 tháng).
Trong giai đoạn này, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ đánh giá khả năng phân biệt của Nhãn hiệu đối với sản phẩm và dịch vụ xin đăng ký và khả năng tương tự gây nhầm lẫn với các quyền sở hữu công nghiệp đã được xác lập trước (như Đơn nhãn hiệu đã được nộp trước, Nhãn hiệu đã được đăng ký trước…);
Về thông tin và tài liệu để nộp đơn Đăng ký Nhãn hiệu Những giấy tờ cần cung cấp:

    12 mẫu nhãn hiệu (yêu cầu nộp đồng thời với đơn).
    Kích thước nhãn không nhỏ hơn 15x 15mm và không lớn hơn 80 x 80mm;
    Một bản sao có công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;
    01 Đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa (Đơn này do tư vấn Brandco soạn thảo theo sự thống nhất của Quý khách hàng);
    01 Giấy ủy quyền Đề nghị quý Công ty vui lòng cung cấp bản sao Đăng ký kinh doanh (có kèm theo Danh mục sản phẩm) và mẫu nhãn hiệu xin đăng ký để nhận được sự tư vấn và tra cứu miễn phí về phân nhóm và khả năng đăng ký nhãn hiệu.

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Công ty chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết.

Đăng ký độc quyền sản phẩm

 Đăng ký độc quyền sản phẩm tại Topiclaw giúp bạn bảo vệ sản phẩm của mình là duy nhất. Mỗi một sản phẩm mới được ra đời thì đó là cả một sự sáng tạo lớn với bao nhiêu tâm huyết bạn dồn vào đó hay nói cách khác nó chính là đứa con tinh thần của bạn. Vì vậy bạn phải bảo vệ nó là độc nhất, là sản phẩm của riêng bạn mà thôi. Bạn hãy gọi ngay cho chúng tôi, chúng tôi sẽ giúp bạn bảo vệ đứa con tinh thần của mình mà không ai có thể sao chép nó.

Đăng ký độc quyền sản phẩm

    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, đăng ký quyền tác giả là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nộp đơn và hồ sơ kèm theo (gọi chung là đơn) cho Cục Bản quyền tác giả để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả.
    Đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả. Việc đăng ký bảo hộ không phải là cơ sở xác lập quyền tác giả; tác phẩm dù có đăng ký hay không đăng ký quyền tác giả đều được hưởng sự bảo hộ như nhau. Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả lại cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền tác giả, đặc biệt trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra.
    Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là bằng chứng mặc nhiên xác nhận tư cách và quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đã đăng ký.
    Nếu tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không đăng ký quyền tác giả thì khi có tranh chấp xảy ra các chủ thể này phải có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm đó, tức phải tự mình cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm. Trong nhiều trường hợp việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chứng minh quyền của mình là rất khó, thậm chí không thể chứng minh được mình là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm có tranh chấp.
    Thủ tục đăng ký bản quyền tác giả không quá phức tạp và chi phí rất nhỏ so với lợi ích thiết thực mang lại. Vì vậy, khi sáng tạo ra tác phẩm, đặc biệt các tác phẩm sáng tạo, có giá trị thương mại và nhiều khả năng bị sử dụng trái phép, chiếm đoạt thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên nhanh chóng thực hiện đăng ký quyền tác giả.