Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Dự kiến sửa đổi Luật Thuế GTGT: Mở rộng diện không chịu thuế

Sau 4 năm thực hiện, về cơ bản Luật Thuế GTGT hiện hành đã đạt được mục tiêu đặt ra, nhưng trong bối cảnh phát triển, hội nhập nhanh của nền kinh tế, luật đã bộc lộ những bất cập, chưa theo kịp thực tiễn phát sinh. Vì vậy, hiện tại Bộ Tài chính (BTC) đã hoàn tất dự thảo sửa đổi Luật Thuế GTGT và đang lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân để tiếp thu, hoàn chỉnh, trình Chính phủ, trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 5, tháng 5/2013.

Số thuế GTGT hàng năm chiếm gần 30%/tổng thu NSNN

Luật Thuế GTGT lần đầu tiên được thông qua năm 1997, sau 15 năm áp dụng, với 3 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2003, 2005, 2008, đến nay có thể khẳng định, luật đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế xã hội của đất nước, đạt được mục tiêu đề ra ban đầu khi ban hành. Không chỉ góp phần thúc đẩy SXKD phát triển, khuyến khích xuất khẩu, đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Luật Thuế GTGT còn đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN, bảo đảm nguồn lực tài chính quốc gia để phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, củng cố an ninh quốc phòng. Mặt khác, sau các lần sửa đổi, Luật Thuế GTGT đã từng bước nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, thúc đẩy công tác hạch toán kế toán, sử dụng hóa đơn chứng từ và nâng cao năng lực quản trị DN. Chỉ tính riêng trong 3 năm từ 2009 - 2011, mặc dù nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng số thu từ thuế GTGT vẫn liên tục tăng.

Sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng đối tượng không chịu thuế GTGT

Tuy nhiên, sau khi tổng kết, đánh giá quá trình áp dụng luật, BTC nhận định, luật hiện hành đang bộc lộ không ít hạn chế. Trong đó, nổi bật nhất là những bất cập về đối tượng không chịu thuế, giá tính thuế, thuế suất, ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, phương pháp tính thuế, khấu trừ và hoàn thuế.

Về đối tượng chịu thuế, qua rà soát 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT trong Luật Thuế GTGT hiện hành, Ban soạn thảo nhận thấy, một số quy định đã không còn phù hợp. Cụ thể, Luật Thuế GTGT mới chỉ đưa “Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng và tái bảo hiểm” là đối tượng không chịu thuế GTGT, trong khi Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 đã tách bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người ra khỏi lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ thành bảo hiểm sức khoẻ gồm: bảo hiểm tai nạn con người; bảo hiểm y tế và bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ; đồng thời, bảo hiểm nông nghiệp cũng đa dạng hơn, thêm nhiều sản phẩm mới. Bên cạnh đó, thời gian qua một số DN triển khai dịch vụ bảo hiểm cho tàu cá, đặc biệt là tàu cá đánh bắt xa bờ hoặc tại những vùng biển chồng lấn, vùng biển quốc tế. Loại hình dịch vụ này cần được khuyến khích, nhằm bảo hiểm rủi ro cho ngư dân bám biển, nhất là các tàu đánh bắt xa bờ tại những vùng biển quan trọng, vùng biển chồng lấn. Vì vậy, Ban soạn thảo đề xuất phương án “Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm người học, các dịch vụ bảo hiểm liên quan đến con người, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng, các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác, bảo hiểm an ngư và tái bảo hiểm đều không chịu thuế GTGT”



Tại khoản 8 Điều 5 Luật Thuế GTGT hiện hành quy định “dịch vụ cấp tín dụng” không chịu thuế GTGT, nhưng trên thực tế lại chưa quy định rõ đối với dịch vụ cho vay do người nộp thuế GTGT không phải là tổ chức tín dụng Việt Nam cung ứng. Đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ (mua bán, hoán đổi ngoại tệ) về bản chất không xuất hiện GTGT nhưng lại quy định nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, rất phức tạp trong kê khai, nộp thuế trong khi số thuế thu được không đáng kể. Vì vậy, để tháo gỡ các vướng mắc, BTC đề nghị sửa đổi, bổ sung dịch vụ cho vay của NNT không phải là tổ chức tín dụng, bán nợ và kinh doanh ngoại tệ vào đối tượng không chịu thuế GTGT.


Một quy định khác là, tại khoản 15 Điều 5 Luật Thuế GTGT quy định “in tiền” không chịu thuế GTGT. Trong khi thuật ngữ “in tiền” được hiểu là dịch vụ in, nhưng thực tế tiền có loại được in, đúc tại Việt Nam, có loại được in, đúc ở nước ngoài nhập khẩu về chưa đưa vào lưu thông và tiền sử dụng trong lưu thông (xuất nhập khẩu, mang theo người khi xuất nhập cảnh). Do đó, để bảo đảm minh bạch, BTC đề nghị bổ sung “tiền” cũng là đối tượng không chịu thuế GTGT.

Riêng quy định: “hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, DN trong nước không chịu thuế GTGT.” thể hiện rõ chính sách ưu đãi miễn thuế GTGT đối với những hộ cá nhân kinh doanh có thu nhập thấp, nhưng do thực hiện lộ trình cải cách tiền lương và trước yêu cầu đơn giản, hiện đại hoá công tác quản lý thuế nên việc căn cứ vào mức lương tối thiểu đã không còn phù hợp với bản chất của thuế GTGT. Mặt khác, mức lương tối thiểu được phân loại theo 4 vùng, được điều chỉnh thường xuyên hàng năm với mức tăng nhanh theo lộ trình cải cách tiền lương. Trong khi đó, Luật Quản lý thuế quy định “NNT phải tự xác định nghĩa vụ thuế”, nên với sự điều chỉnh thường xuyên mức tiền lương, các hộ kinh doanh không thể tự xác định được có thuộc đối tượng phải kê khai nộp thuế GTGT hay không. Do vậy, sau khi tính toán và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, BTC đề xuất quy định, “các hộ cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới 100 triệu đồng sẽ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT”.
Về giá tính thuế, thuế GTGT là loại thuế tiêu dùng tính trên hàng hóa, dịch vụ do người mua phải trả, nhưng theo quy định trong Luật Thuế bảo vệ môi trường (khoản 1 Điều 2) thì khoản thuế gián thu tính bằng mức tuyệt đối cộng vào giá bán của hàng hoá chịu thuế do người mua, người nhập khẩu hàng hoá trả”. Trong khi đó, các khâu sau khi nộp thuế, người bán không thể xác định được số thuế bảo vệ môi trường trong giá trị hàng hoá khi bán cho khách hàng, không tách được thuế bảo vệ môi trường khỏi giá tính thuế GTGT. Vì thế BTC cho rằng, để bảo đảm đồng bộ trong hệ thống chính sách thuế và phù hợp với thông lệ quốc tế, cần sửa đổi, bổ sung quy định giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường theo phương án “giá tính thuế đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở SXKD bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế TTĐB (nếu có); giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu”.

Về thuế suất, theo quy định tại Điều 8 Luật Thuế GTGT hiện hành thì “thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu (trừ một số trường hợp cụ thể); thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu hoặc là đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp và thuế suất 10% đối với hàng hoá, dịch vụ còn lại”. Trong khi, Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 quy định nội dung cải cách thuế GTGT là “Sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm bớt số lượng nhóm hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT; giảm bớt nhóm hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất 5%; bổ sung quy định để xác định đúng cơ chế thu đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mới phát sinh theo sự phát triển của kinh tế thị trường; nghiên cứu đến năm 2020 áp dụng cơ bản một mức thuế suất (không kể mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu)”. Trên cơ sở đó, Ban soạn thảo nhận thấy, trong vài năm tới, bối cảnh kinh tế xã hội trong nước và trên thế giới sẽ còn nhiều khó khăn, cần thiết tiếp tục duy trì nhóm thuế suất 5% đối với hàng hoá, dịch vụ là đầu vào của sản xuất nông nghiệp và hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân. Còn đối với mức thuế suất 10%, có ý kiến đề nghị giảm xuống mức thấp hơn nữa nhưng BTC lý giải, qua thống kê mức thuế suất của 112 nước, có 88 nước mức thuế suất từ 12% đến 25% (trong đó 56 nước có thuế suất từ 17% - 25%), còn lại 24 nước phổ biến ở mức hơn 10%. Các nước như Lào, Indonesia, Campuchia cũng có mức thuế suất phổ biến là 10%; Trung Quốc thuế suất phổ thông là 17% và mức ưu đãi là 13%. Philippines thuế suất 12%. Như vậy có thể thấy, mức 10% của Việt Nam thuộc mức thuế suất thấp so với các nước. Vì vậy BTC đề nghị, giữ mức thuế suất 10%, chưa thu hẹp nhóm thuế suất 5% mà tập trung rà soát, tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.

Về phương pháp tính thuế, Luật Thuế GTGT hiện hành quy định 2 phương pháp gồm: khấu trừ thuế và tính trực tiếp trên GTGT. Tuy nhiên, luật chưa quy định về ngưỡng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nên các DN, HTX đều phải nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và sử dụng hóa đơn GTGT khi bán hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, trong những năm gần đây, nhiều chuyên gia của các tổ chức quốc tế khi đánh giá hệ thống thuế GTGT của Việt Nam đã cho rằng, do chưa có quy định ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT nên các DN nhỏ và vừa vẫn phải kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, làm tăng thủ tục, tốn kém chi phí, do đó, khuyến nghị Việt Nam cần quy định ngưỡng đăng ký thuế GTGT, đồng thời, áp dụng chế độ thuế đơn giản hơn đối với đối tượng có doanh thu dưới ngưỡng.



Về phía Ban soạn thảo dự án luật của BTC cũng nhận thấy, qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, việc áp dụng ngưỡng sẽ góp phần đơn giản hoá thủ tục, tiết kiệm chi phí tuân thủ cho DN nhỏ, đồng thời hạn chế việc gian lận thuế GTGT, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thuế. Theo đó, trong dự án Luật Thuế GTGT sửa đổi đang được BTC đề nghị bổ sung ngưỡng tính thuế để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT đối với DN, HTX và cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện. Trước mắt, dự kiến sẽ áp dụng ngưỡng doanh thu 1 tỷ đồng/năm, khi đó sẽ có khoảng 30% số DN nhỏ nhỏ, doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm sẽ nộp thuế theo tỷ lệ % GTGT/doanh thu.

Về thời gian kê khai khấu trừ bổ sung, theo quy định hiện hành, “trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai, bổ sung tối đa là 6 tháng, kể từ thời điểm phát sinh sai sót”. Nhưng khi thực hiện cho thấy, nhiều trường hợp bỏ sót không kê khai muộn hơn 6 tháng do những nguyên nhân khách quan như DN mới thành lập, bộ phận kế toán chưa thạo việc, nhân sự thay đổi, di chuyển địa điểm làm thất lạc hồ sơ, bên bán không xuất hoá đơn do chưa được thanh toán... vì thế, DN không được khấu trừ thuế GTGT, dẫn đến gặp khó khăn. Do vậy, Ban soạn thảo dự án luật đã đề nghị, nâng thời hạn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào từ 6 lên 12 tháng kể từ tháng phát sinh hóa đơn.

Về mức tối thiểu để được hoàn thuế, luật hiện hành quy định hai trường hợp, “một là cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ hết và có số thuế còn lại từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT. Hai là, cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng.”

Nhưng thực tế, mức 200 triệu đồng được quy định từ năm 2000, đến nay sau 12 năm, nếu đối chiếu với tỷ lệ lạm phát, sức mua theo mức tiền 200 triệu đồng đã tương đương với sức mua theo mức tiền 500 triệu đồng hiện tại, không còn phù hợp với thực tiễn, làm tăng khối lượng hồ sơ, tăng thủ tục hoàn thuế cho NNT. Trong khi đó, khảo sát cho thấy, thực tế số thuế GTGT đầu vào trong giai đoạn đầu tư gồm xây dựng cơ bản và mua sắm máy móc, thiết bị chủ yếu vượt trên 500 triệu đồng. Trong nhiều trường hợp, tháng trước DN phải lập hồ sơ hoàn thuế, tháng sau lại kê khai nộp thuế, mất nhiều thời gian và chi phí về hồ sơ, thủ tục trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của DN. Vì thế, để bảo đảm phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với điều kiện tuân thủ của NNT, giảm bớt thủ tục hành chính, giảm khối lượng hồ sơ hoàn thuế, BTC đề nghị nâng từ mức 200 triệu lên 500 triệu đồng.

Ngoài các quy định trên, dự thảo Luật Thuế GTGT sửa đổi cũng bổ sung quy định hoàn thuế đối với trường hợp kê khai theo quý; bổ sung quy định hoàn thuế đối với hàng hoá mang theo khi xuất cảnh của người mang hộ chiếu nước ngoài và quy định khấu trừ thuế GTGT.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét